Hiện nay, các tai biến do điều trị không hiệu quả trong công tác khám chữa bệnh, sử dụng thuốc ở nước ta vẫn còn xảy ra khá phổ biến. Một trong những nguyên nhân chủ yếu của thực trạng này là do sự nhiễu loạn của các kênh thông tin, quảng cáo như việc nhiều nhà sản xuất đưa ra các thông tin sản phẩm thiếu tính khách quan trong khi đa phần người tiêu dùng thì thiếu kiến thức và chưa biết cách xử lý, cập nhật thông tin một cách đầy đủ.
Hiểu đúng về loại hàng hóa đặc biệt
Thuốc có thể mô tả từ nguồn gốc, quy trình sản xuất, dạng dùng, đường dùng, hiệu lực điều trị, giá trị sử dụng, lưu thông phân phối. Có thể tóm tắt là loại hàng hóa đặc biệt vì nó có ảnh hưởng trực tiếp đến sức khỏe con người. Luật dược đã công bố như sau: Thuốc là chất hỗn hợp các chất dùng cho người nhằm mục đích phòng bệnh, chữa bệnh, chẩn đoán bệnh hoặc điều chỉnh chức năng sinh lý cơ thể bao gồm thuốc thành phẩm, nguyên liệu làm thuốc, vaccin, sinh phẩm y tế, trừ thực phẩm chức năng (Luật Dược CHXHCNVN số 34/2005/QH11 ngày 14/6/2005). Mục 5 Điều 9 của Luật Dược đã nêu ra những hành vi bị nghiêm cấm: thông tin quảng cáo thuốc sai sự thật, gây nhầm lẫn cho người tiêu dùng; quảng cáo thuốc trái với truyền thống lịch sử, văn hóa, đạo đức, thuần phong mỹ tục của dân tộc Việt Nam. Nghị định của Chính phủ số 24/2003/NĐ-CP ngày 13/3/2003 quy định chi tiết pháp lệnh quảng cáo, Mục 4 Điều 3 nghiêm cấm: quảng cáo không đúng chất lượng hàng hóa, dịch vụ; không đúng địa chỉ cơ sở sản xuất.
Thực tế hiện nay số lượng thành phẩm thuốc đã lên tới con số trên 100.000. Có hoạt chất chiếm từ 4 - 5 trang giấy, với các tên biệt dược tiếp đầu kéo dài từ vần A đến vần Z. Tên biệt dược (trademark) mang tính thương hiệu và cũng gắn liền với lợi nhuận. Tên cơ sở khám chữa bệnh, công ty, hãng thuốc cũng vậy. Có cơ sở khám chữa bệnh ngoài việc kê đơn sử dụng thuốc chưa theo quy chuẩn (đơn không được kê theo hoạt chất, tên gốc...), còn có những thông tin chưa đầy đủ tới người bệnh. Vì thế mọi người hiểu vấn đề chưa thấu đáo, có khi "tiền mất tật mang". Đơn cử riêng về nhận thức sử dụng thuốc của nhân dân hiện nay vẫn còn nghe theo mách bảo, tự điều trị, yêu cầu bác sĩ kê đơn theo ý muốn của mình... hoặc nghe nhìn theo những nguồn thông tin chưa cẩn thận, tỉ mỉ, chính xác, kèm theo việc chỉ chú ý về lợi nhuận trước mắt của các cơ sở khám chữa bệnh, hãng thuốc, chứ chưa đề cao phục vụ sức khỏe cho nhân dân. Ở đây cần nói rằng uy tín, chất lượng không phải ở thông tin quảng cáo mà có như câu nói của người xưa "hữu xạ tự nhiên hương". Nó phải bắt nguồn từ năng lực của thầy thuốc, trang thiết bị cho chẩn đoán, điều trị, cơ sở nhà xưởng... vấn đề dùng thuốc thế nào là an toàn hợp lý và hiệu quả.
Dùng đúng và an toàn
Cho đến nay các tai biến điều trị không hiệu quả do công tác khám chữa bệnh, sử dụng thuốc vẫn còn xảy ra, trong đó chúng ta cũng cần nhắc đến việc thông tin, tư vấn, kiểm duyệt thông tin. Việc nghiên cứu các báo cáo và công trình nghiên cứu khoa học chưa được công bố (thông tin bậc 1) cần nhiều thời gian nên cũng khó tiếp cận. Cũng như vậy việc đánh giá, rút gọn để dễ đọc, dễ tiếp cận (thông tin bậc 2) cũng cần thời gian. Các sách đã xuất bản thì không được tiếp cận từ gốc và không mang tính cập nhật (thông tin bậc 3). Ngoài ra còn nguồn thông tin từ các nhà sản xuất dược phẩm, cơ sở khám chữa bệnh cũng có thể dùng nhưng phải thận trọng vì có khi thiếu khách quan. Với sự phát triển của khoa học, kỹ thuật hiện nay, nguồn thông tin từ internet và các phương tiện nghe nhìn gia tăng, khó kiểm soát nên việc sử dụng thông tin cần phải chọn lựa và sàng lọc. Ví dụ ta có thể dùng nguồn thông tin internet của WHO199b. Sử dụng thuốc cũng vậy, cần nghe tư vấn của các thầy thuốc lâm sàng giỏi và có kinh nghiệm. Thầy thuốc cần đánh giá, nắm vững thông tin và áp dụng đúng nguồn thông tin từ các khoa lâm sàng tại các bệnh viện. Như vậy cần áp dụng với nhóm bệnh nhân đại diện trong bệnh viện có thiết kế phù hợp, thống kê hợp lý và xử lý số liệu có độ tin cậy cao, so sánh sản phẩm với thuốc chuẩn, nắm chắc được tác động của thuốc trong lâm sàng, đưa ra được kết luận và đánh giá khách quan. Hướng dẫn bệnh nhân sử dụng thuốc chu đáo: đọc kỹ hướng dẫn, quan tâm đến các tác dụng phụ, phản ứng có hại... Thông tin cho bệnh nhân để họ yên tâm và không ngần ngại với các vấn đề nêu ở trên.
Nguồn thông tin quá lớn và dồi dào nhưng có mặt trái của nó nên việc xử lý thông tin từ thầy thuốc đến bệnh nhân là vô cùng quan trọng và có ý nghĩa quyết định. Người đưa ra thông tin cần cân nhắc kỹ mọi vấn đề, nhất là yếu tố khách quan. Đừng vì lợi nhuận trước mắt sẽ gây thiệt thòi cho bệnh nhân. Người nhận và xử lý thông tin cần xem xét cụ thể, kỹ càng, cẩn thận để chọn lựa tối ưu. Về quản lý nhà nước, cần kiểm duyệt chặt chẽ nhất là trên các phương tiện nghe nhìn, vì nó dễ đến với người dân nhất. Người tiêu dùng cần trang bị cho mình các kiến thức cơ bản, tối thiểu để đọc, hiểu và phân tích được các thông tin, tránh được các thiệt thòi không cần thiết. Ví dụ luôn ghi nhớ một điều rất cơ bản: mỗi cơ thể bệnh là khác nhau, do đó điều trị là khác nhau, sử dụng thuốc là khác nhau... nên không nghe mách bảo, không chạy theo các biệt dược quý hiếm, quá tốn kém lại không hợp lý. Các biệt dược cùng một hoạt chất thì tác dụng của biệt dược nào tốt hơn (phải có so sánh tương đương sinh học với thuốc gốc) có giá hợp lý hơn... Khi có bệnh và nghi ngờ về sức khỏe thì tốt nhất là đến khám và điều trị tại các cơ sở khám chữa bệnh có uy tín, có năng lực. Ngay khi nghe các thông tin quảng cáo về mỹ phẩm cũng cần phải thận trọng. Bộ Y tế đã ra Quyết định số 35/2006/QĐ-BYT ngày 10/11/2006 về việc ban hành quy chế quản lý mỹ phẩm. Việc thông tin quảng cáo mỹ phẩm được thực hiện theo quy chế thông tin quảng cáo thuốc và mỹ phẩm hiện hành của Bộ Y tế. Bộ Y tế đã phát hành Danh mục mỹ phẩm bắt buộc phải đăng ký chất lượng: kem bôi da, tô màu, phấn trang điểm, xà phòng, nước hoa, khử mùi cơ thể, chăm sóc tóc, chăm sóc môi, răng, miệng, móng, kem chống nắng, làm trắng da, chống nhăn da, làm rụng lông...
Thực hiện được những điều trên đây chúng ta đã đóng góp một phần vô cùng quan trọng trong việc chăm sóc và bảo vệ sức khỏe cho nhân dân.
DSCKII. Nguyễn Hữu Minh